HỊCH TƯỚNG SĨ... TIỂU THƠ sưu tầm

NGUYÊN TÁC VÀ CÁC BẢN DỊCH

HỊCH TƯỚNG SĨ

- Tiểu Thơ sưu tầm

 

HỊCH TƯỚNG SĨ của Trần Quốc Tuấn là một trong số thiên cổ hùng văn của nước ta.

Nguyên bản được viết bằng chữ Việt cổ (chữ Nho) 諭諸裨將檄文 phiêm âm là “Dụ chư tỳ tướng hịch văn", gọi tắt là “Hịch Tướng Sĩ”, được thống súy Trần Quốc Tuấn viết vào cuối thế kỷ thứ XIII, trước cuộc chiến chống quân Mông-Tàu lần thứ hai.

(Chúng tôi dùng “Mông-Tàu” để chỉ giai đoạn đại hãn Hốt Tất Liệt của Mông Cổ diệt nhà Tống (nước Tàu), sát nhập nước Tàu vào Đế Quốc Mông Cổ. Hốt Tất Liệt lập Nguyên triều để cai trị cả dân Mông Cổ lẫn dân Tàu)

Bài hịch nổi tiếng này đã được nhiều người dịch ra văn xuôi và thơ, kể cả một bản dịch ra Anh ngữ. Chúng tôi trích đăng tất cả những bản dịch từ trước đến nay để cống hiến cho con cháu Đức Thánh Trần có thêm tài liệu tham khảo.

Tưởng cũng nên tóm lược về giai đoạn lịch sử 3 lần đánh thắng quân Mông-Tàu này của quân dân Đại Việt do thống súy Trần Quốc Tuấn chỉ huy:

Trước khi đánh bại hoàn toàn nhà Tống (triều đại cai trị nước Tàu), quân Mông Cổ đã tiến đánh nước ta. Vào năm 1254 quân Mông Cổ chiếm nước Đại Lý (tỉnh Vân Nam bên Tàu ngày nay), muốn chiếm luôn nước ta để tạo thế gọng kìm đánh Tống. Bọn họ cho sứ giả sang nước ta “mượn đường” để hành quân (đánh Tống). Vua quan nhà Trần của ta không cho. Chiến tranh nổ ra.

Vào tháng 1 năm 1258 vua Mông cho danh tướng Uriyangqatai (Ngột Lương Hợp Thai) cùng con trai là Aju (a Truật) đem 30.000 quân người Mông Cổ và 15.000 quân người Đại Lý ồ ạt tấn công nước ta. Quân Mông Cổ đã mau chóng chiếm được kinh đô Thăng Long. Sau khi củng cố lực lượng, vua quân nhà Trần đã đánh bật quân xâm lược ra khỏi đất nước.

Năm 1278 Mông Cổ diệt nhà Tống, lập triều đại Nguyên cai trị xứ Mông Cổ và Tàu nên gọi giai đoạn lịch sử này của Tàu là “Mông-Tàu”.

Là đế quốc khét tiếng, bọn Mông Cổ không ngừng mở rộng biên cương, đưa quân đi đánh chiếm và tiêu diệt các nước.

Năm 1285, vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Xubilaĭ Khaan) cho quân đánh nước ta với lực lượng lớn từ hai mặt xuất phát bên Tàu đánh xuống và cánh quân Mông-Tàu viễn chinh phía Chiêm Thành đánh lên. Cuộc chiến kéo dài khoảng 6 tháng. Ban đầu quân Mông-Tàu thắng ta một số mặt trận và chiếm luôn kinh thành Thăng  Long, vua quân Đại Việt phải rút về Thanh Hóa, tiêu khổ kháng chiến. Sau hơn 2 tháng, quân ta bắt đầu phản công và liên tiếp thắng lợi, tái chiếm kinh thành Thăng Long.

Ngay sau khi bại trận, quân Mông-Tàu lại sang phục thù. Quân dân Đại Việt đối đầu với giặc xâm lược Mông-Tàu lần thứ ba bắt đầu từ cuối tháng 12 năm 1287. Lần này quân Mông-Tàu chia làm 3 cánh từ Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông ồ ạt tấn công nước ta.

Cũng giống như 2 lần trước, quân Mông-Tàu thắng ta một số nơi và cũng chiếm được thủ đô Thăng Long. Quân Đại Việt rút về Hải Phòng. Từ đây quân ta đánh vào bộ chỉ huy thủy quân Mông-Tàu tại Vạn Kiếp và giành thắng lợi vẻ vang. Tiếp đó, quân ta tạo thêm chiến thắng trên sông Bạch Đằng, tiêu diệt hoàn toàn lực lượng thủy quân của Mông-Tàu. Trên đất liền, quân ta cũng diệt được các cánh bộ binh Mông-Tàu ở Bắc Giang và Lạng Sơn.

Với 3 lần thắng đội quân hung hãn nhất thế giới, thống súy Trần Quốc Tuấn và quân dân Đại Việt đã bảo vệ được sự vẹn toàn lãnh thổ của đất nước.

HOÀN CẢNH RA ĐỜI HỊCH TƯỚNG SĨ

Cuối năm 1284 (dưới triều vua Trần Nhân Tông), tướng giặc Thoát Hoan đưa đại binh đánh chiếm Chi Lăng, thống súy Trần Quốc Tuấn phải rút quân về Vạn Kiếp. Nhà vua cho mời ông về Hải Dương, không dấu nỗi âu lo: “Thế giặc to như vầy, mà chống với chúng thì dân ta sẽ bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?”. Trần Quốc Tuấn tâu: “Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng !!"

Trở về Vạn Kiếp, Trần Quốc Tuấn hiệu triệu 20.000 quân sĩ, thảo bài hịch này nhằm khuyên răn tướng sĩ cùng một lòng với chủ tướng đánh giặc cứu nước.

 

NGUYÊN VĂN VÀ PHIÊN ÂM BÀI HỊCH:

 

Dụ chư tỳ tướng hịch văn (諭諸裨將檄文), thường được gọi là Hịch Tướng Sĩ, là bài hịch của thống súy Trần Quốc Tuấn.

 

Nguyên bản Việt cổ (chữ Nho)

Phiên âm tiếng Việt

余常聞之

Dư thường văn chi:

紀信以身代死而脫高帝

Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế;

由于以背受戈而蔽昭王

Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương.

豫讓吞炭而復主讎

Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù;

申蒯断臂而赴國難

Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn.

敬德一小生也 身翼太宗而得免世充之圍

Kính Đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi;

杲卿一遠臣也 口罵禄山而不從逆賊之計

Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế.

自古忠臣義士 以身死國 何代無之

Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi?

設使數子區區為兒女子之態

Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái,

徒死牖下 烏能名垂竹白

Đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch,

與天地相為不朽哉

Dữ thiên địa tương vi bất hủ tai!

汝等世為將種 不曉文義

Nhữ đẳng thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa,

其聞其說 疑信相半

Kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán.

古先之事姑置勿論

Cổ tiên chi sự cô trí vật luận.

今余以宋韃之事言之

Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi:

王公堅何人也

Vương Công Kiên hà nhân dã?

其裨將阮文立又何人也

Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã?

以釣魚瑣瑣斗大之城

Dĩ Điếu Ngư tỏa tỏa đẩu đại chi thành,

當蒙哥堂堂百萬之鋒

Đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong,

使宋之生靈至今受賜

Sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ!

骨䚟兀郎何人也

Cốt Đãi Ngột Lang hà nhân dã?

其裨將赤脩思又何人也

Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dã?

冒瘴厲於萬里之途

Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ,

獗南詔於數旬之頃

Quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh,

使韃之君長至今留名

Sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh!

況余與汝等生於擾攘之秋

Huống dư dữ nhữ đẳng, Sinh ư nhiễu nhương chi thu;

長於艱難之勢

Trưởng ư gian nan chi tế.

竊見偽使往來 道途旁午

Thiết kiến ngụy sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ.

掉鴞烏之寸舌而凌辱朝廷

Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình;

委犬羊之尺軀而倨傲宰祔

Ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ.

托忽必列之令而索玉帛以事無已之誅求

Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu;

假雲南王之號而揫金銀以竭有限之傥庫

Giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng hố.

譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉

Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dã tai?

余常臨餐忘食 中夜撫枕

Dư thường lâm xan vong thực, Trung dạ phủ chẩm,

涕泗交痍 心腹如搗

Thế tứ giao di, Tâm phúc như đảo.

常以未能食肉寢皮 絮肝飲血為恨也

Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì, nhứ can ẩm huyết vi hận dã.

雖余之百身高於草野

Tuy dư chi bách thân, cao ư thảo dã;

余之千屍裹於馬革

Dư chi thiên thi, khỏa ư mã cách,

亦願為之

Diệc nguyện vi chi.

汝等久居門下 掌握兵權

Nhữ đẳng cửu cư môn hạ, Chưởng ác binh quyền.

無衣者則衣之以衣

Vô y giả tắc ý chi dĩ y;

無食者則食之以食

Vô thực giả tắc tự chi dĩ thực.

官卑者則遷其爵

Quan ti giả tắc thiên kỳ tước;

祿薄者則給其俸

Lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng.

水行給舟 陸行給馬

Thủy hành cấp chu; Lục hành cấp mã.

委之以兵則生死同其所為

Ủy chi dĩ binh, tắc sinh tử đồng kỳ sở vi;

進之在寢則笑語同其所樂

Tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc.

其是公堅之為偏裨 兀郎之為副貳亦未下爾

Kỳ thị Công Kiên chi vi thiên tì, Ngột Lang chi vi phó nhị, Diệc vị hạ nhĩ.

汝等坐視主辱曾不為憂

Nhữ đẳng tọa thị chủ nhục, tằng bất vi ưu;

身當國恥曾不為愧

Thân đương quốc sỉ, tằng bất vi quý.

為邦國之將侍立夷宿而無忿心

Vi bang quốc chi tướng, thị lập di tú nhi vô phẫn tâm;

聽太常之樂宴饗偽使而無怒色

Thính thái thường chi nhạc, yến hưởng ngụy sứ nhi vô nộ sắc.

或鬥雞以為樂或賭博以為娛

Hoặc đấu kê dĩ vi lạc; Hoặc đổ bác dĩ vi ngu.

或事田園以養其家

Hoặc sự điền viên dĩ dưỡng kỳ gia;

或戀妻子以私於己

Hoặc luyến thê tử dĩ tư ư kỷ.

修生產之業而忘軍國之務

Tu sinh sản chi nghiệp, nhi vong quân quốc chi vụ;

恣田獵之遊而怠攻守之習

Tứ điền liệp chi du, nhi đãi công thủ chi tập.

或甘美酒或嗜淫聲

Hoặc cam mỹ tửu; Hoặc thị dâm thanh.

脱有蒙韃之寇來

Thoát hữu Mông Thát chi khấu lai,

雄雞之距不足以穿虜甲

Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp;

賭博之術不足以施軍謀

Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu.

田園之富不足以贖千金之軀

Ðiền viên chi phú, bất túc dĩ thục thiên kim chi khu;

妻孥之累不足以充軍國之用

Thê noa chi lụy, bất túc dĩ sung quân quốc chi dụng.

生產之多不足以購虜首

Sinh sản chi đa, bất túc dĩ cấu lỗ thủ;

獵犬之力不足以驅賊眾

Liệp khuyển chi lực, bất túc dĩ khu tặc chúng.

美酒不足以沈虜軍

Mỹ tửu bất túc dĩ trấm lỗ quân;

淫聲不足以聾虜耳

Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ.

當此之時 我家臣主就縛 甚可痛哉

Ðương thử chi thời, Ngã gia thần chủ tựu phọc, Thậm khả thống tai!

不唯余之采邑被削

Bất duy dư chi thái ấp bị tước,

而汝等之俸祿亦為他人之所有

Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc vi tha nhân chi sở hữu;

不唯余之家小被驅

Bất duy dư chi gia tiểu bị khu,

而汝等之妻孥亦為他人之所虜

Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc vi tha nhân chi sở lỗ;

不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵

Bất duy dư chi tổ tông xã tắc, vi tha nhân chi sở tiễn xâm,

而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘

Nhi nhữ đẳng chi phụ mẫu phần mộ, diệc vi tha nhân chi sở phát quật;

不唯余之今生受辱 雖百世之下 臭名難洗 惡謚長存

Bất duy dư chi kim sinh thụ nhục, tuy bách thế chi hạ, xú danh nan tẩy, ác thụy trường tồn,

而汝等之家清 亦不免名為敗將矣

Nhi nhữ đẳng chi gia thanh, diệc bất miễn danh vi bại tướng hĩ!

當此之時汝等雖欲肆其娛樂得乎

Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục tứ kỳ ngu lạc, đắc hồ?

今余明告汝等

Kim dư minh cáo nhữ đẳng,

當以措火積薪為危

Đương dĩ thố hỏa tích tân vi nguy;

當以懲羹吹虀為戒

Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới.

訓練士卒習爾弓矢

Huấn luyện sĩ tốt; Tập nhĩ cung thỉ.

使

Sử

人人逄蒙家家后羿

Nhân nhân Bàng Mông; Gia gia Hậu Nghệ.

購必烈之頭於闕下

Cưu Tất Liệt chi đầu ư khuyết hạ;

朽雲南之肉於杲街

Hủ Vân Nam chi nhục ư cảo nhai.

不唯余之采邑永為青氈

Bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên,

而汝等之俸祿亦終身之受賜

Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc chung thân chi thụ tứ;

不唯余之家小安床褥

Bất duy dư chi gia tiểu đắc an sàng nhục,

而汝等之妻孥亦百年之佳老

Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc bách niên chi giai lão;

不唯余之宗廟萬世享祀

Bất duy dư chi tông miếu vạn thế hưởng tự,

而汝等之祖父亦春秋之血食

Nhi nhữ đẳng chi tổ phụ diệc xuân thu chi huyết thực;

不唯余之今生得志

Bất duy dư chi kim sinh đắc chí,

而汝等百世之下芳名不朽

Nhi nhữ đẳng bách thế chi hạ, phương danh bất hủ;

不唯余之美謚永垂

Bất duy dư chi mỹ thụy vĩnh thùy,

而汝等之姓名亦遺芳於青史矣

Nhi nhữ đẳng chi tính danh diệc di phương ư thanh sử hĩ.

當此之時汝等雖欲不為娛樂得乎

Ðương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục bất vi ngu lạc, đắc hồ!

今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略

Kim dư lịch tuyển chư gia binh pháp vi nhất thư, danh viết Binh thư yếu lược.

汝等或能專習是書 受余教誨 是夙世之臣主也

Nhữ đẳng hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dã;

或暴棄是書 違余教誨 是夙世之仇讎也

Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dã.

何則

Hà tắc?

蒙韃乃不共戴天之讎

Mông Thát nãi bất cộng đái thiên chi thù,

汝等記恬然不以雪恥為念 不以除凶為心

Nhữ đẳng ký điềm nhiên, bất dĩ tuyết sỉ vi niệm, bất dĩ trừ hung vi tâm,

而又不教士卒 是倒戈迎降 空拳受敵

Nhi hựu bất giáo sĩ tốt, thị đảo qua nghênh hàng, không quyền thụ địch;

使平虜之後 萬世遺羞

Sử bình lỗ chi hậu, vạn thế di tu,

上有何面目立於天地覆載之間耶

Thượng hữu hà diện mục lập ư thiên địa phú tái chi gian da?

故欲汝等明知余心 因筆以檄云

Cố dục nhữ đẳng minh tri dư tâm, Nhân bút dĩ hịch vân.

 

BẢN DỊCH CỦA NGÔ TẤT TỐ:

“Ta thường nghe: Kỷ Tín lấy thân chết thay, cứu thoát được vua Cao-đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở được vua Chiêu-vương; Dự Nhượng nuốt than để trả thù cho thầy; Thân Khoái chặt tay để gánh nạn cho nước; Uất Trì Cung một viên tướng nhỏ, còn biết che đỡ Đường-chủ, ra khỏi vòng vây của Thế Sung; Nhan Cảo-Khanh là bầy tôi xa, còn biết mắng chửi Lộc Sơn, không nghe lời dụ của nghịch-tặc. Từ xưa, những bậc trung-thần nghĩa-sĩ, lấy thân theo nước, đời nào là không có đâu? Nếu mấy người kia, chăm chăm học thói nhút-nhát của con gái trẻ con, chẳng qua cũng đến chết rũ ở dưới cửa sổ, đâu được ghi tên vào trong thẻ tre lụa trắng, danh tiếng cùng trời đất cùng lâu bền?

“Các người đời đời là con nhà võ, không biết chữ nghĩa, nghe những chuyện ấy, thảy đều nửa tin nửa ngờ. Thôi thì những việc cổ xưa, hãy để đó không nói đến nữa. Nay ta hãy đem chuyện nước Tống, giống Thát (là chuyện gần đây) kể cho các người cùng nghe: Vương công Kiên là người gì? Nguyễn văn Lập tỳ-tướng của y lại là người gì, chỉ có vòng thành Điếu-ngư nhỏ bằng cái đấu hai người ấy chống nổi toán quân trăm vạn của Mông-kha, khiến cho con dân nước Tống, đến nay hãy còn nhớ ơn. Đường ngột Ngại là người gì? Xích tu Tư tỳ-tướng của y lại là người gì? xông pha lam-chướng trên đuờng muôn dặm, hai người ấy đánh được quân Nam-chiếu trong vài tuần, khiến cho vua chúa giòng Thát nay còn để tiếng!

“Huống chi ta với các ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lên nhằm khi khó nhọc, chính mắt ngó thấy sứ ngụy đi lại, đường xá nghẽn-ngang, chúng múa cái lưỡi cú quạ làm nhục chốn triều-đình, chúng giơ cái thân chó dê, kiêu ngạo với quan tể-phụ; chúng nhờ mệnh lệnh của chúa Mông-Cổ, mà đòi nào ngọc nào lụa, sự vòi vĩnh thật vô cùng; chúng mượn danh hiệu của vua Vân-nam mà hạch nào bạc nào vàng; của kho đụn đã hồ hết Cung-đốn cho chúng giống như đem thịt mà liệng cho cọp đói, sao cho khỏi lo về sau?

“Ta thường thì tới bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mép, tấm lòng đau như bị đâm, vẫn lấy cái sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu của chúng làm tức. Dẫu cho một trăm cái thân của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, một nghìn cái thân của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy. So với Công Kiên làm chức thiên-lý, Ngột Ngại ở ngôi phó nhị, có khác gì đâu.

“Thế mà các ngươi thấy chủ bị nhục chẳng lấy làm lo, gặp nước bị dơ chẳng lấy làm thẹn, làm tướng nhà nước phải hầu mấy đứa chum mường, mà không có lòng căm hờn, nghe khúc nhạc thờ đem thết một tên ngụy sứ, mà không có vẻ tức giận; kẻ thì chọi gà cho thích, kẻ thì đánh bạc mua vui, có người chỉ chăm vườn ruộng, cốt nuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lo làm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay.

“Một khi giặc Mông đến nơi, thì cựa con gà nòi không thể đâm thủng áo-giáp của giặc; thuật ở bàn bạc không thể đem làm mưu mẹo ở trong quân; vườn ruộng tuy giàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẳn, trong đám ba quân khó dùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe, không thể đuổi được quân thù, rượu ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủ làm cho giặc phải điếc; lúc đó thầy trò ta sẽ cùng bị trói, đáng đau đớn biết chừng nào! Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia-quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ các ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng. Đã đến khi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, được chăng?

“Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ. Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, bêu đầu Tất-Liệt dưới cửa khuyết, ướp thịt Thoát-Hoan trong trại rơm. Như thế chẳng những là thái-ấp của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng-lộc các ngươi cũng được suốt đời hưởng thụ; chẳng những gia-quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông-miếu ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền; chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiếng thơm trong sử xanh. Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, được chăng?

“Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách "Binh-thư yếu-lược". Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy? Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời, thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ. Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc. Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở? Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch.”

 

BẢN DỊCH CỦA TRẦN TRỌNG KIM

« Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín 紀 信 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu 由 于 lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượngDự Nhượng 豫 讓 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái 申 蒯 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức 敬 德 là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh 杲 卿 là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn 祿 山 là quân nghịch-tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà, thì sao cho lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?

« Nay các ngươi vốn dòng võ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời TốngNguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên 王 公 堅 là người thế nào? Tỳ-tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập 阮 文 立 lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư[1] nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha[2] kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường ngột Ngại là người thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đình, đem thân dê chó mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt tất Liệt 忽 必 烈 mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-nam-vương[3] để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ về sau!

« Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được xả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.

« Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?

« Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh. Chẳng những là thái-ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng-lộc; chẳng những là gia-quyến của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng-thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một mình ta được sung-sướng, mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử sách, nghìn đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ.

« Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là « Binh-thư yếu-lược ». Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù.

« Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình-lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta ».


Chú thích

  1.  Điếu-ngư là tên núi, thuộc phủ Trùng-khánh tỉnh Tứ xuyên.
  2.  Mông-kha (Mungke) là vua Mông-cổ, anh Hốt tất Liệt.
  3.  Khi quân Mông-cổ lấy được đất Vân nam rồi, Hốt tất Liệt phong cho con là Hốt kha Kích là Vân-nam-vương.
  4.  Bình-lỗ là tên thành, nhưng sử cũ không chép rõ ở đâu và ai xây lên. Sách « Khâm-định Việt-sử » chép rằng theo bộ « Địa-dư-chí » của ông Nguyễn Trãi, thì đời nhà Lý có đào con sông Bình-lỗ để đi lên Thái-nguyên cho tiện. Vậy thành Bình-lỗ có lẽ ở vào hạt Thái-nguyên. Xem lời dặn của Trần Hưng-đạo-vương thì thành Bình-lỗ này xây vào đời Đinh hay đời Tiền-Lê, rồi Lý thường Kiệt đời Lý đã đánh quân Tống ở đó.

 

BẢN DỊCH CỦA HUỆ CHI

“Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Ðức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?
“Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương công Kiên là người thế nào? Nguyễn văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Ðãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!
“Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.
“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xẻ thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?
“Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?
“Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam vương ở Cảo Nhai. Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?
“Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là “Binh Thư Yếu Lược”. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.
“Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

“Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta."


Chú thích:
Kỷ Tín: tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Khi Lưu Bang bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dương, Kỷ Tín giả làm Hán Cao Tổ ra hàng, bị Hạng Vũ thiêu chết. Hán Cao Tổ nhờ thế mới thoát được.

Do Vu: tướng của Sở Chiêu Vương thời Xuân Thu. Theo Tả Truyện, Sở Chiêu Vương bị nước Ngô đánh phải lánh sang phương Ðông, một đêm bị cướp vây đánh. Do Vu đã chìa lưng ra đỡ giáo cho vua mình.

Dự Nhượng: gia thần của Trí Bá thời Chiến Quốc. Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết, Dự Nhượng bèn nuốt than cho khác giọng đi, giả làm hành khất, mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.

Thân Khoái: quan giữ ao cá của Tề Trang Công thời Xuân Thu. Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái bèn chết theo chủ.

Kính Ðức: tức Uất Trì Cung đời Ðường. Khi Ðường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần Vương Lý Thế Dân) bị Vương Thế Sung vây, ông đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Thái Tông chạy thoát.

Cảo Khanh: họ Nhan, một bề tôi trung của nhà Ðường. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Ðường Huyền Tông và Dương Quý Phi, ông đã cả gan chưởi mắng An Lộc Sơn và bị cắt lưỡi.

Vương Công Kiên: tướng tài nhà Tống, giữ Hợp Châu, lãnh đạo quân dân Tống cầm cự với quân Mông Cổ do Mông Kha chỉ huy ở núi Ðiếu Ngư suốt bốn tháng trời. Mông Kha cuối cùng bị loạn tên chết, quân Mông Cổ đành phải rút lui.

Ðiếu Ngư: tên ngọn núi hiểm trở ở Tứ Xuyên, ba mặt nhìn xuống sông. Ðời Tống, Dư Giới đắp thành ở đó.

Mông Kha: tức Mongka, anh của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, làm Ðại Hãn Mông Cổ từ năm 1251. Mông Kha trực tiếp chỉ huy cuộc viễn chinh sang Tàu và các nước phía Ðông. Ông bị tử trận năm 1259 dưới chân thành Ðiếu Ngư trong cuộc vây hãm đội quân Tống do Vương Công Kiên chỉ huy.

Cốt Ðãi Ngột Lang: tức Uriyangqadai, tướng giỏi của Mông Cổ, con của viên tướng nổi tiếng Subutai. Cốt Ðãi Ngột Lang nhận lệnh của Mông Kha, cùng Hốt Tất Liệt đánh chiếm nước Nam Chiếu. Cốt Ðãi Ngột Lang cũng là viên tướng chỉ huy đạo quân Mông Cổ xâm lược Ðại Việt lần thứ nhất (1258).

Xích Tu Tư: chép Xích theo Hoàng Việt Văn Tuyển. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chép Cân. Hai chữ gần giống nhau, không biết quyển nào chép nhầm. Hiện nay, chưa có tài liệu nào nói gì về viên tướng này, và việc khôi phục lại tên Mông Cổ từ Hán tự cũng không phải là chuyện đơn giản.

Nam Chiếu: nước nhỏ nằm ở khoảng giữa tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam ngày nay; thủ đô là Ðại Lý, thuộc Vân Nam.

Hốt Tất Liệt: tức Qubilai, em ruột và là tướng của Mông Kha. Sau khi Mông Kha tử trận ở Ðiếu Ngư, Hốt Tất Liệt tự xưng làm Ðại Hãn ở Khai Bình, khiến xảy ra cuộc nội chiến tranh giành ngôi báu với em ruột là Ariq-Buka. Năm 1264, Ariq-Buka đầu hàng, Hốt Tất Liệt bèn dời đô về Yên Kinh (tức Bắc Kinh ngày nay), xưng Nguyên Thế Tổ, lập nên nhà Nguyên.

Vân Nam Vương: tức Hugaci hay Thoát Hoan, con ruột Hốt Tất Liệt, được phong làm Vân Nam Vương năm 1267 với nhiệm vụ khống chế các dân tộc thiểu số vùng này cũng như mở rộng biên cương nhà Nguyên về phía Nam. Thoát Hoan là người chỉ huy quân Nguyên xâm lược Ðại Việt lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1287-1288.
 

Nghìn thây ta bọc trong da ngựa: điển tích lấy từ câu nói của viên tướng khét tiếng Mã Viện đời Hán chép trong Hậu Hán Thư (Ðại trượng phu dương tử ư cương trường, dĩ mã cách khỏa thi nhĩ: Bậc đại trượng phu nên chết ở giữa chiến trường, lấy da ngựa mà bọc thây.)

Thái thường: tên loại nhạc triều đình dùng trong những buổi tế lễ quan trọng ở tông miếu. Bấy giờ là thời kỳ ngoại giao căng thẳng giữa ta và quân Nguyên, trong những buổi yến tiệc tiếp sứ Nguyên, triều đình nhà Trần nhiều khi phải buộc dùng đến nhạc thái thường để mua vui cho sứ giả. Trần Quốc Tuấn xem đó là một điều nhục nhã.

Thái ấp: phần đất vua Trần phong cho các vương hầu.

Ðặt mồi lửa dưới đống củi nỏ: từ câu văn trong Hán Thư: “phù bão hỏa, thố chi tích tân chi hạ nhi tẩm kỳ thượng, hỏa vị cập nhiên nhân vị chi an”. (Ôm mồi lửa, đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên).

Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội: xuất xứ từ một câu văn trong Sở Từ: “trừng ư canh nhi xuy tê hề”. (Người bị bỏng vì canh nóng, trong lòng đã e sợ sẵn, dù gặp rau nguội đi nữa, cũng vẫn thổi như thường).

Bàng Mông: danh tướng đời nhà Hạ, có tài bắn cung trăm phát trăm trúng.

Hậu Nghệ: một nhân vật bắn cung giỏi nữa trong thần thoại của Tàu.

Cảo Nhai: nơi trú ngụ của các vua chư hầu khi vào chầu vua Hán ở Trường An.

Mãi mãi vững bền: nguyên văn chữ Hán là “vĩnh vi thanh chiên”. Sách Thế Thuyết chép chuyện Vương Tử Kính đêm nằm ngủ thấy bọn trộm vào nhà sạch sành sanh vét mọi vật. Ông từ tốn bảo chúng rằng: cái nệm xanh (thanh chiên) này là đồ cũ của nhà ta, các ngươi làm ơn để lại. Tác giả dùng điển tích này để chỉ những của cải được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Binh Thư Yếu Lược: tức Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược, nay đã thất truyền. Tác phẩm với đầu đề tương tự được lưu truyền hiện nay không phải là văn bản thực thụ, trong đó có vài đoạn chép các trận đánh thời Lê Nguyễn sau này.

Dẹp yên nghịch tặc: nguyên văn chữ Hán là “bình lỗ chi hậụ”.  Các dịch giả Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim đoán Bình Lỗ là tên đất ở đâu đó vùng Phù Lỗ thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Ở đây, chúng tôi theo Ngô Tất Tố và Phan Kế Bính dịch thoát là bình định nghịch tặc nói chung.

BẢN DỊCH CỦA PHAN KẾ BÍNH

(thơ Song thất lục bát)

Kìa Kỷ-Tín, Do-Vu thủa trước,

Liều một mình thoát được nạn vua.

Nuốt than, Dự-Nhượng báo thù,

Chặt tay, Thân-Khoái đền bù quốc ân.

Đường Kính-Đức đem thân cứu chúa,

Nhan Thường-sơn mắng quở nghịch-thần.

Từ xưa nghĩa-sĩ, trung-thần.

Đã lòng vì nước biết thân là gì!

Nếu cứ giữ nữ-nhi thường thái,

Chỉ khu khu biết cái thân mình.

Ở đời một cõi phù sinh,

Còn đâu là tiếng hiển vinh đến rầy?

Thôi chẳng kể việc ngày tiền-cổ,

Hãy xem ngay việc rõ Tống, Nguyên:

Kìa như Nguyễn-Lập, Vương-Kiên,

Điếu-ngư thành ấy quân quyền được bao?

Đương trăm vạn ào ào quân giặc,

Giữ cho dân nay được hàm ân.

Ngột-Lương một chức võ-thần,

Tu-Tư tì-tướng xuất thân đó mà!

Đường muôn dặm xông pha chướng dịch,

Trong vài tuần quét sạch Vân-nam.

Lập công tuyết-vực đã cam,

Khiến cho quân trưởng tiếng thơm để đời.

Nay gặp phải trong thời nhiễu loạn,

Ta cùng ngươi đương đoạn gian truân.

Nghĩ sao sánh với cổ-nhân,

Cũng nên hết bụng trung quân mới là!

Kìa thử ngắm sự nhà Mông-cổ,

Sứ vãng lai nhặng bộ xôn xao.

Cú diều uốn lưỡi thấp cao,

Bẻ bai triều bệ xiết bao nhục nhằn!

Tuồng dê chó cậy rằng đắc thế,

Chốn triều-đường ngạo nghễ vương công.

Cậy tay Tất-Liết anh hùng,

Bạc vàng biết mấy cho cùng dạ tham?

Lại ỷ thế Vân-nam hống hách,

Định sang ta vét sạch của ta;

Thịt đâu hoài thịt ném ra,

Ném cho hổ đói dễ đà khỏi lo?

Nghĩ đến sự rầy vò xấu hổ,

Ngày quên ăn, đêm ngủ không an.

Vỗ mình thổn thức canh tàn,

Chạnh đau khúc dạ, chảy dàn giọt châu.

Ăn gan ấy mới hầu thỏa dạ,

Uống huyết kia mới hả giận này.

Ví dù gan nát, óc lầy,

Cho rằng da ngựa bọc thây cũng đành.

Hỡi chư tướng cầm binh dưới trướng!

Cơm áo vua an hưởng bao lâu?

Chúa lo không biết âu sầu,

Hầu quân Mông-cổ không mầu hổ ngươi.

Hết cờ bạc vui chơi gà chọi,

Thôi rượu chè lại ngõi hát hay.

Vợ con quấn quít đêm ngày,

Ruộng vườn chăm chút riêng tây của nhà.

Việc quân-quốc ví mà biếng nhác,

Cuộc du-điền đã chắc vui không?

Giặc Nguyên phỏng lại đùng đùng,

Lấy gì chống giữ, hay cùng can tâm?

Cựa gà sắc, khôn đâm giáp giặc,

Mẹo bạc gian, khó đạc mưu quân.

Vợ con thêm bận vướng chân,

Ruộng vườn khôn chuộc cái thân nghìn vàng.

Đầu giặc há có vàng mua được,

Sức chó săn đuổi khước giặc sao?

Rượu ngon giặc chẳng lao đao,

Hát hay giặc chẳng hơi nào điếc tai.

Nếu đến lúc vua tôi mắc nạn,

Nhà các ngươi gia-sản cũng tan.

Các ngươi nên phải lo toan,

Húp canh ngớp nóng, nằm giàn lo thiêu!

Quân-sĩ phải hết triều dạy dỗ,

Rèn tập nghề cung, nỗ, qua, mâu.

Quyết tình giết giặc treo đầu,

Đem công phá lỗ về tâu triều-đình.

Được như thế ta vinh đã vậy,

Các ngươi cùng nổi dậy tiếng hay.

Vậy nên có quyển thư này,

Truyền cho các tướng đêm ngày chuyên coi.

Nếu biết nghĩ mà noi lời bảo,

Ấy thầy trò hòa hảo một nhà.

Ví dù trái bỏ lời ta,

Dẫu trong tôi tớ cũng ra cừu thù.

Bởi Mông-cổ là thù của nước,

Không chung trời ở được cùng nhau.

Các ngươi sao chẳng xót đau?

Bấm gan chịu nhục, cúi đầu làm thinh.

Lại không dạy quân binh cho biết.

Lâm giặc vào chịu chết bó tay.

Phỏng sau bình định có ngày,

Muôn đời để tiếng mặt dầy thế gian!

 

 

BẢN DỊCH CỦA WIKISOURCE

thường được gọi là

HỊCH TƯỚNG SĨ LỜI TRUYỀN THỐNG THIẾT

(thơ Song thất lục bát)

 

Kỷ Tín xưa liều chết thay vua

(khuyết 1 câu 7 chữ)

Hoàng bào Hán đế xông pha
Chết thay Cao tổ sơn hà lưu danh
Do Vu lấy thân mình đỡ giáo
Tránh Chiêu Vương một thuở bạo binh
Nuốt than Dự Nhượng đổi hình
Trả thù quốc chủ thân mình sá chi
Thân Khoái chặt tay đi nào sá
Theo Tề Vương một dạ trung thành
Uất Trì Cung chữ không rành
Trung quân ái quốc lưu danh muôn đời
Theo Thế Dân tạo thời lập nghiệp
Trong nguy nan liều chết hộ quân
Thế Sung vây bắt bao lần
Cứu quân bảo quốc ngàn năm mãi còn
Nhan Cảo Khanh tận cùng biên viễn
Mắng Lộc Sơn lưu tiếng muôn đời
Thà rằng đầu đứt lìa đời
Không theo nghịch tặc một loài quân gian
Sử lưu dấu trăm ngàn lương đống
Lòng trung thành còn lộng sử xanh
Xưa nay hào kiệt hùng anh
Phò vua dựng nước rành rành tiếng thơm
Thói nhút nhát trẻ con phụ nữ
Thì tàn đời chết rũ xó nhà
Lấy đâu tiết tháo vinh hoa
Công danh lưu dấu để cho muôn đời
Dẫn tích xưa các ngươi chiến tướng
Chuyện xa xôi biết lượng đúng sai
Người xưa ai biết ai hay
Mơ hồ chữ nghĩa ai rày làm tin
Ta dẫn chuyện Tống Nguyên Mông Thát
Chuyện mới đây sử sách rành rành
Các ngươi thấu lý đạt tình
Cạn lời thấu nhẽ biết mình biết ta
Thành Điếu Ngư bôn ba trăm vạn
Vương Công Kiên quyết chận Nguyên Mông
Nguyễn văn Lập tướng hộ công
Đồng lòng giữ nước nản lòng quân Nguyên
Dân đất Tống bình yên một thuở
Lòng quyết tâm danh sử còn ghi
Ngột Lương là tướng lãnh gì
Xông pha lam chướng quyết ghi công đầu
Xích Tu Tư tướng theo phò trợ
Nửa tuần trăng rạng rỡ hùng binh
Nam Chiếu thành lũy tan tành
Tướng Nguyên để tiếng lưu danh rạng ngời
Ta, các người sinh thời khốn khó
Nước rối ren ai nỡ ai đành
Sứ Nguyên ngang ngược bạo hành
Làm nhục cha chú triều đình mãi sao
Thân chó dê nói điều quốc sỉ
Phận cáo chồn miệng lưỡi ngông nghênh
Mượn Hốt Tất Liệt ép trên
Lấy Vân Nam Vương để chèn để thâu
Của đất nước mồ hôi khốn khó
Đút bao nhiêu cho thỏa túi tham
Ngọc luạ vàng bạc trăm ngàn
Của kho trống hoác lòng gian chưa đầy
Đem thịt tươi dâng ngay hổ đói
Đem bạc vàng dâng loại cuồng tham
Là thân tự diệt lấy thân
Nạn tai khốn khó muôn phần biết sao
Giận quân giặc nỗi đau cắt ruột
Ngày quên ăn nhói buốt căm hờn
Đêm nằm đập gối thét luôn
Nước mắt gận (?) buốt chảy tuôn đầm đìa
Trái tim thể ai chia ai cắt
Nung căm hờn uống mật nhai gan
Quyết diệt lũ giặc tham tàn
Lột da xẻ thịt trăm lần chưa nguôi
Vào trong lửa tàn đời cũng quyết
Ngàn đao thương sống chết cũng đành
Hờn căm nung nấu hờn căm
Chí trai da ngựa bọc thân sá gì
Cùng với ta nghĩ suy đại sự
Chung một lòng gìn giữ quốc gia
Đói lòng cơm xẻ chia ra
Lạnh lùng áo xống với ta cũng bằng
Quan chức nhỏ ta thăng ta cấp
Bổng lộc sơ ta lập ta thêm
Đường thủy ta cấp chiến thuyền
Đường bộ ta cấp ngựa quen đường dài
Cuộc sống chết gian nguy chung gánh
Lúc thảnh thơi ấm lạnh chung cùng
Công Kiên đãi tướng ai hơn
Ngột Lương xử sự vẫn còn thua xa
Nhục mất nước lòng ta không thể
Phận các ngươi yên thế được ư
Chúa nhục quốc hận chi thù
Quốc sĩ khắc cốt thiên thu hận lòng
Hầu tướng giặc lòng mong rửa hận
Nhạc thái thường nổi giận căm gan
Sá gì sứ ngụy quân gian
Bức đòi o ép giận tràn cành hông
Nước nguy kịch vui trong gà chọi
Thú bạc bài biết lối nào ra
Ruộng vườn chăm chú an nhà
Vợ con ôm ấp can qua ai tường
Mong tích lũy gian thương lạm phú
Giương cung tên săn thú làm vui
Quân binh luyện tập quên rồi
Rượu ngon gái đẹp say lời cầm ca
Giặc Mông Thát can qua dấy động
Cựa gà nòi đâm chúng được chăng
Mưu gian bài bạc có ngăn
Ruộng vườn cướp đoạt xác thân lưu đày
Vợ hầu đẹp về tay quân giặc
Ruộng vườn nhiều mất tất ai hay
Vàng mua đầu giặc dám ai
Giặc tràn thân liệt nạn tai gông cùm
Chó săn khỏe hỏi mong diệt giặc
Rượu ngon say Mông Thát có mê
Hát hay giặc có trốn về
Hay thân bại tướng búa đe xích xiềng
Nỗi đau đáu không riêng ta lụy
Thái ấp ta tiêu hủy mất rồi
Bổng lộc quan tước các người
Giặc sang cướp đoạt tiêu đời còn đâu
Thân quyến ta mang sầu khốc lụy
Vợ con ngươi cũng hủy diệt theo
Tông miếu ta bị lao đao
Cửa nhà ngươi cũng xạc xào khác chi
Vua bị bắt nước thì không chủ
Ô nhục này hỏi thử ai cam
Danh ta thân liệt ngàn năm
Các ngươi bại tướng cam đành được sao
Không lo lắng nỗi đau trước mắt
Giặc tràn vào nắm chắc bại vong
Cuộc vui đừng có mà mong
Rành rành trước mắt phải trông phải lường
Nay ta bảo tai ương nên nhớ
Lửa cháy rơm phải sợ phải lo
Canh nóng chớ húp ngay cho
Biết thời biết thế so đo cho tường
Quân sĩ rèn thao trường huấn luyện
Sức Bàng Mông trận chiến tham gia
Cung tên Hậu Nghệ vượt qua
Bêu đầu Tất Liệt lột da thỏa lòng
Vân Nam Vương những mong đốt xác
Diệt quân Nguyên tan tác trốn về
Nước non trọn một lời thề
Đuổi sạch bóng giặc làng quê an lành
Giặc Nguyên sạch mộng thành tráng chí
Thái ấp ta được giữ lâu bền
Bổng lộc ngươi hưởng theo quyền
Gia quyến ta được bình yên một đời
Thân thuộc ngươi một thời rạng rỡ
Tiên nhân ta yên ở thái thường
Tổ tông ngươi cũng miếu đường
Quanh năm nghi ngút khói hương khác gì
Ta giữ được quân uy đại chí
Mộng hùng anh ngươi phỉ tấc lòng
Ngàn năm sử khắc ghi công
Dẹp xong Mông Thát còn mong hơn gì
Viết binh pháp nghĩ suy tường tận
Chắc lọc từ chiến trận khắp nơi
Điều hay tinh túy các đời
“Binh thư yếu lược” các ngươi phải tường
Phải chăm chú chuyên thường luyện tập
Mọi việc binh nhất nhất tinh tường
Làm người trọn đạo quân vương
Nghịch bằng kháng lệnh đối phương cừu thù
Vì Nguyên-Trần đối đầu sống chết
Phận tôi con phải biết an nguy
Diệt thù không tận nghĩ suy
Không rèn quân kỷ lấy gi chống Nguyên
Có khác nào quay thuyền theo giặc
Đem tay không diệt Thát được chăng
Nước non bị họa xâm lăng
Trung quân ái quốc cầm bằng như không
Lời hịch viết trong lòng ghi nhớ
Cho các ngươi hãy rõ hết lòng
Việc làm lời nói song song
Diệt quân Mông Thát non sông thái bình

 

BẢN DỊCH CỦA NGUYỄN VĂN BÌNH

(thơ Song thất lục bát)

Xưa Kỷ Tín liều thân chịu chết,
Cứu Hán Vuơng thoát khỏi Hoàng Dương
Do Vu cháu Sở Chiêu Vương,
Giơ lưng đỡ giáo tìm đường cứu vua.
Kìa Dự Nhượng thuở xưa người Tấn,
Từng nuốt than lận đận phục thù.
Kìa Thân Khoái một Tể Phu,
Chặt tay theo nạn với vua Tề.
Quan nhỏ nhưa Uất Trì Kính Đức,
Giúp Thái Tông khỏi bước trùng vi.
Cảo Khanh quan ở biên thùy,
Già mồm chửi giặc không hề tiếc thân.
Bậc nghĩa sĩ trung thần từ trước,
Từng diệt thân cứu nước có nhiều.
Những người kia nếu chẳng liều,
Chết suông như đám nữ lưu xó nhà.
Còn danh tiếng đâu mà chép lại,
Cùng kiền khôn truyền mãi không ngần.
Các ngươi dòng dõi vũ thần,
Xưa này nào có hiểu văn nghĩa gì.
Nghe câu chuyện bán nghi bán tín,
Sự muôn năm nhắc đến chi vay?
Nay ta hãy nói cho hay,
Thử xem Tống, Thát truyện này ra sao?
Vương Công Kiên người nào thế vậy?
Tướng Nguyễn Văn Lập ấy người nào?
Điếu Ngư thằng bé tẻo teo,
Chống quân Mông Cổ ồn ào trăm muôn.
Khiến quân Tống thắng luôn mấy trận,
Đến bây giờ dân vẫn hàm ân.
Ngột Lang là tướng Đốc Quân,
Với Tỳ tướng Xích là nhân phẩm nào?
Ngoài muôn dặm quản bao nước độc,
Trong mấy ngày phá rốc quân Nam.
Lòng vua Thát Đát đã cam,
Đến nay lừng lẫy tiếng thơm nhường nào?
Ta với ngươi sinh vào đời loạn,
Vừa gặp bao cơn vận hạn gian nan.
Sứ Nguyên lai vãng bao lần,
Mọi nơi đường sá muôn vàn nôn nao.
Triều đình bị cú diều soi mói,
Tể tướng thì lang sói rẻ khinh.
Mượn oai Hốt Liệt tranh giành,
Lấy bao của báu chưa đành lòng tham.
Cậy thế chúa Vân Nam nạt nã,
Đòi bạc vàng hết cả kho ta.
Thịt nuôi hùm đói mãi a?
Sao cho thoát khỏi lo xa sau này.
Ta đây những hàng ngày quên bữa,
Lúc đêm thâu ngồi dựa gối kiêu.
Giọt châu tầm tã tuôn trào,
Như nung gan sắt, như bào lòng son.
Chí nhừng muốn moi gan lấy tiết,
Lòng những toan xẻ thịt vằm da.
Dù thân dầu với cỏ hoa,
Dù da ngựa bọc thân đà cũng vui.
Các người vốn là người môn thuộc
Được trông nom mọi việc binh cơ,
Áo không, ta cỡi áo cho,
Cơm không, ta sẻ cơm no cho lòng.
Quan nhỏ thì ta phong chức cả,
Lộc ít thì ta trả lương thêm.
Đi sông, ta cấp cho thuyền,
Đi đường, ta cũng lệnh truyền ngựa đi.
Cho cầm quân an nguy cùng lối,
Cho nằm yên, vui nói cùng hàng.
So Vương Kiên với Ngột Lang,
Đãi chư Tỳ tướng mọi người kém chi.
Nếu vua nhục ngươi thì chẳng đoái,
Mà nước nguy, ngươi lại làm ngơ,
Đứng hầu tướng giặc không dơ,
Nghe ca thết sứ vẫn trơ táo ngồi
Khi gà chọi, khi thời cờ bạc,
Cuộc vui chơi, gỡ gạc đủ trò.
Ruộng vườn muôn sự ấm no,
Vợ con vui thú riêng cho một mình.
Ham lập nghiệp, quên tình nhà, nước,
Mãi đi săn, nhác việc ngăn, ngừa.
Rượu chè hôm sớm say sưa,
Hát hay, đàn ngọt sớm trưa thỏa lòng
Đúng có lúc quân Mông, Thát tới,
Cựa gà không chọc nỗi áo da,
Những nghề cờ bạc tinh ma,
Phải đâu kế hoạch của nhà cầm quân?
Ruộng nương nào đủ phần chuộc mạng,
Vợ con nào đủ cáng quân nhu?
Của đâu chuốc được đầu thù?
Chó săn đâu đủ sức khua giặc trời?
Rượu ngon khó làm mồi bã giặc,
Hát hay không làm điếc tai thù.
Bây giờ chẳng xót lắm ru?
Vua tôi bị trói gô một đàn!
Tước ấp ta bị tan nát cả,
Bổng lộc ngươi cũng chẳng còn gì
Gia đình ta bị đuổi đi,
Vợ ngươi cũng phải đến khi nhục nhằn
Tông xã ta, địch quân xéo đi,
Phần mộ ngươi cũng bị quật lên.
Đời ta khổ nhục liên miên,
Cái tên nhơ nhuốc lưu truyền mãi sau!
Nhà các ngươi cũng đều mang tiếng,
Không khỏi làm những tướng bị thua.
Các ngươi đang lúc bây giờ,
Muốn mong vui thích như xưa được nào?
Lời ta nhũ thấp ca ngươi nhớ,
Phải coi nằm trên lửa là nguy.
Kiềng canh đưa cũng thổi xùy,
Luyện quân sĩ tốt tập nghề đao cung.
Khiến ai nấy nức lòng mạnh mẽ,
Sức Bàn Mông, Hậu Nghệ cũng ham.
Bêu đầu Hốt Liệt cho cam,
Phơi luôn thịt chúa Vân Nam bên đường.
Tước ấp ta chăn thường ấm chỗ,
Bổng lộc ngươi hưởng có trọn đời
Gia đình ta được yên vui,
Vợ con ngươi cũng lo đời trăm năm.
Tông miếu ta nghìn năm hương lửa,
Tổ tiên ngươi muôn thuở cương thường,
Ta đây phỉ chí bồng tang,
Các ngươi dường cũng vẻ vang vô cùng.
Huy hiệu ta tôn sùng mãi mãi
Tính danh ngươi ghi với sử xanh.
Bấy giờ vui thú linh đình,
Các ngươi đều muốn buồn tênh được nào?
Này binh pháp soạn theo đời trước,
Là “Binh Thư Yếu Lược” ban ra,
Các ngươi theo đúng sách ta,
Ấy là thần, chủ một nhà từ xưa.
Nếu bỏ sách thờ ơ lời dạy,
Ấy kẻ thù đã mấy đời nay,
Tại sao mà lại thế vầy?
Là thù không đội trời này được chung.
Nếu các ngươi lòng không biết hổ,
Không coi đều “sát Lỗ” là cần,
Lại không vâng dạy luyện quân,
Ấy là quay giáo, bó thân quy hàng.
Giặc yên rồi còn mang tiếng mãi,
Mặt mũi nào đứng với ca cao (?) đây?
Muốn ngươi hiểu rõ lòng đây,
Vậy nên thảo bức hịch nầy cho nghe.

 

BẢN DỊCH TIẾNG ANH CỦA GEORGE F. SCHULTZ

 

TRAN HUNG DAO'S PROCLAMATION TO HIS OFFICERS

Translated and adapted by George F. Schultz

I have often read the story of Ky Tin who replaced the Emperor Cao to save him from death, of Do Vu who took a blow in his back to spare King Chieu, of Du Nhuong who swallowed burning charcoal to avenge his leader, of Than Khoai who cut off an arm to save his country, of young Kinh Duc who rescued the Emperor Thai Tong besieged by The Sung, and of Cao Khanh, a subject living far from the Court, who insulted the rebel Loc Son to his face. Every century has produced heroes who have sacrificed their lives for their country. If they had remained at home to die by the fire, would their names have been inscribed on bamboo and silk to live eternally in Heaven and on the Earth?

But as descendants of warrior families, you are not well-versed in letters; on hearing about these deeds of the past, you may have some doubts. Let us speak of them no more. I shall tell you instead of several more recent events that have taken place during the years of the Tong and Nguyen dynasties.

Who was Vuong Cong Kien? And who was his lieutenant Nguyen Van Lap? They were the ones who defended the great citadel of Dieu Ngu against Mong Kha's immense army; Therefore, the Tong people will be eternally grateful to them.

Who was Cot-Ngai Ngot-Lang? And who was his lieutenant Xich Tu Tu? They were the ones who drove deep into an unhealthful country in order to put down the Nam-Chieu bandits and they did it within the space of a few weeks; therefore, their names have remained rooted in the minds of the Mongol military chieftains.

You and I were born in a period of troubles and have grown up at a time when the Fatherland is in danger. We have seen the enemy ambassadors haughtily traveling over our roads and wagging their owlish tongues to insult the Court. Despicable as dogs and goats, they boldly humiliate our high officials. Supported by the Mongol emperor, they incessantly demand the payment of pearls, silks, gold and silver. Our wealth is limited but their cupidity is infinite. To yield to their exactions would be to feed their insatiable appetites and would set a dangerous precedent for the future.

In the face of these dangers to the Fatherland, I fail to eat during the day and to sleep at night. Tears roll down my cheeks and my heart bleeds as if it were being cut to shreds. I tremble with anger because I cannot eat our enemy's flesh, lie down in his skin, chew up his liver, and drink his blood. I would gladly surrender my life a thousand times on the field of battle if I could do these things.

You have served in the army under my orders for a long time. When you needed clothing, I clothed you; when you lacked rice, I fed you; when your rank was too low, I promoted you; when your pay was insufficient, I increased it. If you had to travel by water, I supplied you with vessels; if you had to travel by land, I supplied you with horses. In time of war, we shared the same dangers; at the banquet table our laughter resounded in unison. Indeed, even Cong-Kien and Ngot-Lang did not show more solicitude for their officers than I have displayed for you.

And now, you remain calm when your emperor is humiliated; you remain indifferent when your country is threatened! You, officers, are forced to serve the barbarians and you feel no shame! You hear the music played for their ambassadors and you do not leap up in anger. No, you amuse yourselves at the cockfights, in gambling, in the possession of your gardens and rice fields, and in the tranquility of family life. The exploitation of your personal affairs makes you forget your duties to the State; the distractions of the fields and of the hunt make you neglect military exercises; you are seduced by liquor and music. If the enemy comes, will your cocks' spurs be able to pierce his armor? Will the ruses you use in your games of chance be of use in repulsing him? Will the love of your wives and children be of any use in the Army? Your money would neither suffice to buy the enemy's death, your alcohol to besot him, nor your music to deafen him.

All of us, you and I together, would then be taken prisoner. What grief! And not only would I lose my fief, but your property too would fall into enemy hands. It would not be my family alone that would be driven out, but your wives and children would also be reduced to slavery. It would not be only the graves of my ancestors that would be trampled under the invader's heel, but those of your ancestors would also be violated. I would be humiliated in this life and in a hundred others to come, and my name would be ignominiously tarnished. Your family's honor would also be sullied forever with the shame of your defeat. Tell me: Could you then indulge yourselves in pleasures?

I say to you in all frankness: Take care as if you were piling wood by the fire or about to imbibe a hot liquid. Exercise your soldiers in the skills of archery until they are the equals of Bang Mong and Hau Nghe, those famous archers of olden times. Then we will display Tat-Liet's head at the gates of the Imperial Palace and send the King of Yunnan to the gallows.

After that, not only my fief will be safe forever, but your privileges too will be assured for the future. Not only my family will enjoy the comforts of life, but you too will be able to spend your old age with your wives and children. Not only the memory of my ancestors will be venerated from generation to generation, but yours too will be worshipped in the spring and autumn of every year. Not only will I have accomplished my aspirations in this life, but your fame too will endure for a hundred centuries to come. Not only will my name be immortalized, but yours too will find a place in our nation's history. At that moment, would you not be perfectly happy even if you did not expect to be?

I have studied every military treatise in order to write my manual entitled "Principles of Military Strategy". If you will make an effort to study it conscientiously, to instruct yourselves in its teachings, and to follow my directions, you will become my true companions-in-arms. On the other hand, if you fail to study it and ignore my advice, you will become my enemies. Why? Because the Mongols are our mortal enemies; we cannot live under the same sky with them.

If you refuse to fight the Mongols in order to wash away the national shame, if you do not train your soldiers to drive out these barbarians, it would be to surrender to them. If that is what you want, your names will be dishonored forever. And when the enemy has finally been defeated, how will you be able to hold your head high between Heaven and Earth?

The purpose of this proclamation is to let you know my deepest thoughts.

 

 

 

 

 

 

 

 

BẠCH ĐẰNG GIANG CA

HƯNG ĐẠO CA