ĐỨC THÁNH TRẦN - Bài của Giáo sư LƯU TRUNG KHẢO

 

ĐỨC THÁNH TRẦN

[1228(?) -1300]

 

LƯU TRUNG KHẢO


TIỂU SỬ

Đức Thánh Trần tên húy Trần Quốc Tuấn là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Trần Liễu vốn có hiềm khích với vua Trần Thái Tông và Trần Thủ Độ, thường căn dặn con sau này phải chiếm được thiên  hạ lên ngôi vua . Ngài vâng dạ cho qua nhưng trong thâm tâm vẫn không cho là phải. Khi ngài mới sinh, một thầy tướng nhìn tướng mạo khôi ngô của Ngài đã đoán là sau này Ngài sẽ làm được những việc lớn lao không ai làm nổi và tên tuổi sẽ vang lừng trong thiên  hạ. Thuở thiếu thời, Ngài học hành rất thông minh và có kiến thức rất sâu rộng. Từ Tứ Thư, Ngũ Kinh đến Bách Gia Chư Từ, Lục Thao Tam Lược, không môn học nào là không để mắt tới. Ngài là người can đảm. Để biết được tình hình quân Nguyên một cách chính xác, Ngài đã cải trang  thành  một vị Hoà Thượng ung dung vào thẳng bản doanh của giặc, dùng Hoa Ngữ đàm thoại trực tiếp vối chủ tướng. Một tên quân hầu đã lấy một mũi tên sắt chọc vào đầu Ngài đến đổ máu mà Ngài không hề biến sắc.

Ngài luôn để việc nước trước việc nhà. Trước đây, Ngài có mối bất hoà với Thượng Tướng Trần Quang Khải. Một bữa Trần Quang Khải đi kinh lý về, Ngài đã đón đường Trần Quang Khải mời về phủ sai người nấu nước thơm để tắm cho. Từ đó hai người đồng tâm quyết chí mưu lập kế hoạch phá quân Nguyên. Ngài lại đem lời trăn trối của cha để hỏi ý các con và các gia tướng. Tất cả đều đồng ý với Ngài trừ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Ngài rút gươm toan chém, may nhờ các người khác xin cho nên Quốc Tảng thoát chết. Từ đó, Ngài không cho Quốc Tảng được diện kiến. Trước lúc lâm chung Ngài dặn chỉ cho Quốc Tảng vào viếng sau khi đã đậy nắp quan tài.

Bình định xong giặc Nguyên, Ngài lui về Vạn Kiếp trí sĩ. Gặp những việc quân quốc quan trọng, nhà vua thương triệu Ngài về vấn kế. Có khi chính nhà vua đích thân xa giá ra Kiếp Bạc để tham vấn Ngài. Trước khi Ngài về thần, vua Trần ra thăm và ngồi bên giường bệnh để hỏi Ngài kế hoạch chống xâm lăng để giữ nước. Sau khi qua đời, Ngài được triều đình phong tặng: Long Công, Thịnh Đức, Vũ Liệt Hồng Huân, Thái Sư Thượng Phụ Thượng Quốc Công Bình Bắc Đại Nguyên Suý, Nhân Võ Hưng Đạo Đại Vương. Hàng năm cứ đến ngày Lễ kỵ (20/8) Nhân dân cả nước kéo nhau về đền Kiếp Bạc hay đền thờ ở Tức Mặc để chiêm bái bày tỏ lòng ngưỡng mộ vị Đại Anh Hùng cứu quốc của dân tộc.

CÔNG ĐỨC CỦA ĐỨC THÁNH TRẦN

Công nghiệp lớn nhất của Đức Thánh Trần là công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Cổ ba lần sang xâm lăng nước ta trong thế kỷ thứ 13 đời nhà Trần (1257 - 1287).

Lần Thứ Nhất (1257):

Nhà Nguyên nghe tin vua Trần Thái Tông băng hà, liền sai Lễ Bộ Thượng Thư là Sài Thung sang sứ nước ta để dụ vua nước Nam sang chầu.Thái độ ngông nghênh ngạo mạn của Sài Thung đã làm vua quan và quân dân nhà Trần nổi giận. Vua Trần Nhân Tông từ chối không chịu sang chầu. Nguyên chúa đã có ý định tấn công Đại Việt từ đó. 

Vua Trần Nhân Tông bèn cử một phái bộ ngoại giao do Trần Di Ái cầm đầu sang Tầu để điều giải. Nguyên chủ không chịu, cử người sang giám trị các châu  quận của ta. Vua Nhân Tông không nhận và đuổi đám này về Tầu. Nguyên chủ tức giận bèn phong cho Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương và lệnh cho Sài Thung hộ tống Trần Di Ái về làm vua nước ta. Vua Trần xuống chiếu lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới theo sự tiết chế của Trần Quốc Tuấn. Sài Thung đưa bọn Trần Di Ái đến gần ải Nam Quan thì bị quân ta phục kích. Sài Thung bị trúng tên, hư mất một mắt phải tháo chạy về bên kia biên giới. Bọn Trần Di Ái bị bắt sống đưa về kinh đô và phải chiu tội đổ làm lính.

Lần Thứ  Hai (1285):

Nguyên Chúa thấy Sài Thung mang thương tích chạy về vô cùng tức giận phong cho con là Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương thống lĩnh tướng sĩ sang chinh phạt nước Nam. Thoát Hoan chia quân làm hai đạo, một đạo do Toa Đô chỉ huy theo đường biển vào Nghệ An đánh ra, một đạo do Thoát Hoan trực tiếp điều khiển từ Lạng sơn đánh xuống. Quân Nguyên trong những trận đầu đại thắng. Quân Nam rút lui trên nhiều mặt trận, quân Thoát Hoan chiếm được kinh đô Thăng Long. Vua Trần phải chạy vào Thanh Hóa.

Sau đó quân ta tập hợp lại và thắng được hai trận lớn. Trận thứ nhất là trận Hàm Tử do Trần Nhật Duật chỉ huy quân ta đuổi đánh quân giặc chết hại rất nhiêu. Trận thứ hai là trận Chương Dương do Trần Quang Khải chỉ huy. Thắng được trận này, quân ta khôi phục được thành Thăng Long, tinh thần tướng sĩ quân dân lên rất cao.

Hai trận đánh cuối cùng kết thúc cuộc chiến là trận Tây Kết và trận Vạn Kiếp do đích thân Hưng Đạo Vương chỉ huy. Trong trận Tây Kết, quân ta đã chém được đầu tướng Toa Đô, bắt được hơn ba vạn quân Nguyên, cùng chiến thuyền khí giới không biết bao nhiêu mà kể. Biết tin đại bại ở Tây Kết, Toa Đô có ý muốn tháo chạy. Hưng Đạo Vương chia quân mai phục suốt dọc đương đi biên giới còn mình thì dẫn đại quân đi công phạt Thoát Hoan. Thoát Hoan bỏ chạy. Trên đương rút lui, quân Nguyên lọt vào các ổ phục kích của quân ta chết rất nhiều. Thoát Hoan phải chui vào chiếc ống đồng trốn chạy về Tầu.

Lần Thứ Ba (1287):

Hai năm sau, vào mùa Xuân năm Đinh Hợi, Nguyên chủ cho lệnh chinh phạt nước Nam để rửa hận. Thoát Hoan được phong làm Đại Nguyên Suý thống lãnh các tướng A Bát Xích, Lỗ Bá Xích, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đưa người phản thẩn là Trần Ích Tắc về làm An Nam Quốc Vương. Cũng giống như hai năm trước, lúc đầu quân ta lui quân trên nhiều mặt trận và rút về cố thủ ở Thăng Long. Lần này Thoát Hoan cố tấn công Thăng Long nhưng thất bại phải rút quân về Vạn Kiếp, Chí Linh, Phả Lại...

Sau đó là hai trận đánh quyết định. Trận thứ  nhất là trận Vân Đồn. Trong trận  này, tướng Trần Khánh Dư đã cướp và phá huỷ toàn bộ lương thảo của tướng Trương Văn Hổ. Trận thứ hai  là trận Bạch Đằng do đích thân Hưng Đạo Vương chỉ huy. Nghe tin thuyền lương của Trương Văn Hổ bị diệt gọn,quân của Thoát Hoan mất tinh thần chỉ mong trở về xứ. Thoát Hoan cũng không còn lòng dạ nào muốn đánh cho nên đã lệnh cho Ô Mã Nhi chuẩn bị đường thủy rút lui trước. Hưng Đạo Vương lệnh cho quân sĩ áp dụng chiến thuật của Ngô Quyền dùng cọc nhọn đóng giữa dòng sông, dùng mẹo dụ thuyền địch sa vào vùng cắm cọc nhọn rồi phản công. Thuyền giặc vướng cọc nhọn bị tan vỡ. Các tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc đều bị bắt. Cánh quân của Thoát Hoan đi đường bộ đã bị phục kích tổn thất nặng nề.

Vua quan, quân dân nhà Trần vào thành Thăng Long mở tiệc khao thường tướng sĩ trong ba ngày cực kỳ vui vẻ gọi là Thái Bình Diên Yến.

 

KẾT LUẬN

Mông Cổ là một dân tộc ở phía Bắc nước Tầu. Người Mông Cổ hung tợn, hiếu chiến giỏi cưỡi ngựa, bắn cung và có tài chiến đấu. Từ khi Thành Cát Tư Hãn lên làm Chúa Mông Cổ, vó ngựa của quân Mông Cổ đã dẫm nát nhiều quốc gia tử Á sang Âu. Mông Cổ đã chiếm trọn cả vùng Trung Á, cùng đất Ba Tư, sang đến phía đông Bắc Âu La Ba. Sau Mông Cổ lại chiếm đất Tây Hạ, dứt được nước Kim và tràn sang đến nước Triều Tiên. Cả một nước Tầu rộng lớn như vậy cũng bị Mông Cổ chiếm đóng cùng với nước Đại Lý ở Vân Nam. Thế nhưng đạo quân Mông Cổ con cháu của Thành Cát Tư Hãn đã phải chùn bước trước tinh thần quật khởi, bất khuất và sự đoàn kết gắn bó keo sơn của Nhân dân Việt Nam đời nhà Trân mà Đức Thánh Trần Hưng Đạo là người Đại Diện xứng đáng nhất cho tinh thần đó.

 

BẠCH ĐẰNG GIANG CA

HƯNG ĐẠO CA